CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ VÀ CÁC EM HỌC SINH ĐẾN VỚI THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS SÔNG RAY
KHÁT VỌNG TUỔI TRẺ
HAI SỐ PHẬN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Dấu
Ngày gửi: 15h:17' 30-09-2025
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Dấu
Ngày gửi: 15h:17' 30-09-2025
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Chia sẻ ebook : Webhoctap.net
Hai người đã giúp cho cuốn sách này hình thành được, và cả hai người đều
muốn giấu tên. Một người đang soạn cuốn Hồi ký của đời mình, còn một
người đang là nhân vật quan trọng ở Hoa Kỳ.
“Với cuốn Kane And Abel này, Jeffrey Archer đứng vào hàng mười nhà
văn đầu bảng của thế giới hiện nay”
• The Lost Angeles Times
“Tôi thách bất cứ ai không thích cuốn sách này, vì nó là một trong những
cuốn tiểu thuyết hay nhất tôi được đọc từ trước đến nay.”
• Otto Preminger
“Một cuốn tiểu thuyết có sức mạnh phi thường”
• The Evening News
“Jeffrey Archer là một thiên tài về kể chuyện”
• Susan Howatch
Mục lục
PHẦN MỘT
CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 4
PHẦN HAI
CHƯƠNG 5
CHƯƠNG 6
CHƯƠNG 7
CHƯƠNG 8
CHƯƠNG 9
CHƯƠNG 10
CHƯƠNG 11
CHƯƠNG 12
CHƯƠNG 13
CHƯƠNG 14
PHẦN BA
CHƯƠNG 15
CHƯƠNG 16
CHƯƠNG 17
CHƯƠNG 18
CHƯƠNG 19
CHƯƠNG 20
PHẦN BỐN
CHƯƠNG 21
CHƯƠNG 22
CHƯƠNG 23
PHẦN NĂM
CHƯƠNG 24
CHƯƠNG 25
PHẦN SÁU
CHƯƠNG 26
CHƯƠNG 27
CHƯƠNG 28
CHƯƠNG 29
CHƯƠNG 30
CHƯƠNG 31
CHƯƠNG 32
CHƯƠNG 33
CHƯƠNG 34
CHƯƠNG 35
CHƯƠNG 36
PHẦN BẢY
CHƯƠNG 37
CHƯƠNG 38
CHƯƠNG 39
CHƯƠNG 40
PHẦN TÁM
CHƯƠNG 41
CHƯƠNG 42
CHƯƠNG 43
CHƯƠNG 44
PHẦN MỘT
CHƯƠNG 1
Ngày 18 tháng 4, 1906
Slonim, Ba Lan
Chỉ sau khi đã chết rồi cô ta mới không kêu hét nữa. Và cũng chính vào
lúc đó đứa bé mới bắt đầu gào khóc.
Chú nhỏ đang đi săn thỏ trong rừng gần đó nghe thấy lạ nhưng không
phân biệt được đó là tiếng hét cuối cùng của người đàn bà hay tiếng khóc
đầu tiên của đứa bé. Đột nhiên chú quay người lại, cảm thấy có chuyện gì
nguy hiểm, đôi mắt chú dò tìm xem có con thú nào bị đau. Chú chưa bao giờ
nghe một con thú nào kêu lên như vậy. Chú cẩn thận đi từng bước đến gần
nơi phát ra tiếng kêu. Lúc này tiếng kêu đã thành rên rỉ nhưng vẫn không
giống với tiếng của bất cứ con thú nào chú được biết. Chú chỉ mong con thú
này nhỏ để chú đủ sức giết được và để có cái gì mới cho món thịt thỏ bữa
tối.
Chú thợ săn nhỏ rón rén phía bờ sông, nơi có tiếng kêu lạ vẳng đến. Chú
nấp sau từng gốc cây để có chỗ dựa nếu xảy ra chuyện gì. Chú nhớ lời bố
dặn là chớ bao giờ đứng ra ngoài chỗ trống. Ra đến bìa rừng, chú đã có thể
nhìn rõ cả một khoảng thung lũng kéo dài xuống đến sông, và lúc này chú
mới nhận ra tiếng kêu quái lạ ấy không phải phát ra từ một con thú bình
thường. Chú bò dần về phía có tiếng rên. Đến đây, chú đã hoàn toàn ra chỗ
trống. Bỗng chú trông thấy người đàn bà nằm đó, áo váy vén lên ngang ngực
còn hai chân thì giang rộng. Chú chưa hề thấy người đàn bà nào như thế bao
giờ. Chú chạy vội đến bên cạnh, nhìn xuống bụng người đàn bà và chú
hoảng sợ. Giữa hai chân người đàn bà có một vật nhỏ đỏ hỏn và ướt đẫm,
dính vào người bằng một cái gì đó như sợi dây thừng. Chú bé thợ săn bỏ
mấy con thỏ mới lột da xuống rồi quỳ bên cạnh vật nhỏ bé ấy.
Chú ngỡ ngàng nhìn một lúc rồi lại quay ra nhìn người đàn bà. Chú chưa
biết mình phải làm thế nào. Thân thể người đàn bà đã tái xanh vì rét lạnh. Cô
ta chỉ ngoài hai mươi nhưng khuôn mặt đã già cỗi khiến chú bé tưởng cô đã
đến tuổi trung niên. Chú biết là cô ta đã chết rồi. Chú bỗng nhấc cái cơ thể
nhỏ bé lên. Chú cũng không biết tại sao mình làm như vậy. Có lẽ vì chú thấy
đứa bé đưa mấy ngón tay nhỏ xíu lên cào vào bộ mặt nhăn nhúm của nó nên
chú sợ chăng. Nhấc lên rồi chú mới biết là giữa người mẹ với đứa con vẫn
còn dính vào nhau bằng một sợi dây nhầy nhụa.
Trước đó ít ngày chú đã được xem một con cừu đẻ. Bây giờ chú cố nhớ
lại. Chú biết người chăn cừu đã làm như thế nào, nhưng chú không biết là
với một đứa bé thì có thể làm như vậy được không? Đứa bé đã thôi không
rên rỉ nữa. Chú cảm thấy mình phải gấp rút quyết định. Chú rút con dao ra,
con dao chú vừa dùng để lột da thỏ, lau vào tay áo rồi, ngập ngừng một chút,
chú cắt đứt sợi dây ở chỗ gần bụng đứa bé. Máu tuôn ra ở hai đầu dây. Chú
thử nhớ lại xem người chăn cừu đã làm như thế nào. Ông ta thắt một cái nút
để máu khỏi chảy. À, đúng thế rồi. Chú bứt một cọng cỏ dài ở dưới đất và
thắt vội vào đầu dây rồi bế đứa bé lên. Chú từ từ đứng dậy và bỏ lại đó ba
con thỏ với người đàn bà đã chết. Trước lúc đi, chú khép hai chân lại cho
người mẹ và kéo chiếc váy xuống đến đầu gối. Chú chỉ biết làm như vậy
được thôi.
“Ôi, lạy Chúa!” Mỗi khi làm điều gì hoặc rất tốt hoặc rất xấu, chú vẫn
thường thốt lên như vậy. Trong trường hợp này, chú chưa thể biết là xấu tốt
như thế nào.
Chú bé thợ săn cứ thế chạy vội về nhà. Chú biết là mẹ chú chỉ chờ chú
mang thỏ về là sửa soạn bữa ăn tối. Bà mẹ sẽ hỏi hôm nay chú săn được mấy
con. Nhà có những tám miệng ăn, phải có ít nhất là ba con thỏ mới đủ. Đôi
khi chú kiếm một con vịt hoặc con ngỗng, có lúc được cả một con chim trĩ
bay lạc từ trong trại của Nam tước ra đây. Bố chú bé làm ở trang trại ấy.
Nhưng hôm nay chú không dám rời tay khỏi đứa bé chú đang bế, chú lấy
chân đá vào cửa để mẹ nghe thấy và ra mở. Chú lặng lẽ giơ đứa bé lên cho
mẹ xem. Người mẹ không đỡ ngay đứa bé mà còn đưa tay lên ngực và nhìn
nó một lát.
“Ôi, lạy Chúa!” Người mẹ nói và làm dấu thánh giá.
Chú ngước lên nhìn mẹ xem bà vui hay buồn. Nhưng đôi mắt người mẹ
cúi xuống nhìn một cách rất hiền dịu chú chưa từng thấy. Chú biết ngay rằng
điều mình làm là tốt.
“Em bé, hả mẹ?”
“Con trai,” mẹ chú gật đầu khẽ nói. “Con tìm thấy ở đâu thế?”
“Ở gần bờ sông, mẹ ạ.” chú đáp.
“Còn mẹ đứa bé đâu?”
“Chết rồi.”
Người mẹ làm dấu thánh giá.
“Con mau chạy đi nói với bố. Bố sẽ tìm bà Urszula Wojnak trên trại. Rồi
con phải dẫn cả hai người đến chỗ có người mẹ của đứa bé này. Sau đó mọi
người về đây ngay nhé.”
Chú thợ săn nhỏ trao đứa bé cho mẹ. Chú mừng thầm trong bụng là mình
đã không bỏ mặc đứa bé. Trao được cho mẹ rồi, chú lau hai tay vào quần và
chạy đi tìm bố.
Người mẹ lấy vai đẩy cửa vào trong và gọi đứa con gái lớn ra đặt nồi
nước lên bếp lò. Rồi bà ngồi xuống một chiếc ghế gỗ, cởi khuy áo và ấn đầu
vú vào cái miệng nhăn nhúm của đứa bé. Thế là, Sophia, đứa con gái mới
được sáu tháng, tối nay sẽ phải nhịn không còn sữa ăn nữa. Người mẹ lấy
làm lo buồn.
“Nhưng sao lại thế nhỉ?” Người mẹ bỗng thốt lên và kéo chiếc khăn
choàng lên cánh tay mình cùng với đứa bé. “Ôi, chú bé tội nghiệp này, để
đến sáng mai thì chú cũng chết mất thôi.”
Lúc bà đỡ già Urszula Wojnak tắm rửa và thắt lại rốn cho đứa bé thì
người mẹ không nhắc lại những ý nghĩ vừa rồi nữa. Còn ông chồng chỉ đứng
lặng yên mà nhìn.
“Có khách vào nhà tức là có Chúa vào nhà.” người mẹ chợt nhắc đến một
câu tục ngữ Ba Lan.
Ông chồng nhổ toẹt một cái.
“Đồ chết dịch ở đâu. Nhà này có thiếu gì trẻ con nữa chứ!”
Người mẹ làm như không nghe thấy ông ta nói gì, chỉ đưa tay vuốt mấy
sợi tóc đen trên đầu đứa bé.
“Ta đặt tên nó là gì nhỉ?” Người đàn bà nói và ngước mắt nhìn chồng.
“Ai mà biết được? Cứ để cho nó chết mà không có tên tuổi gì hết là
xong.” Ông nhún vai.
CHƯƠNG 2
Ngày 18 tháng 4, 1906
Boston, Massachusetts
Bác sĩ nắm lấy cổ chân đứa bé mới đẻ nhấc cao lên và phát cho nó một
cái vào đít. Đứa bé bật khóc.
Ở Boston, bang Massachusetts, có một bệnh viện chuyên phục vụ cho
những ai mắc các chứng bệnh của người giàu có, và vào một số trường hợp
đặc biệt nào đó bệnh viện cũng kiêm cả việc đỡ đẻ cho những trẻ sơ sinh
giàu có được ra đời. Ở bệnh viện đa khoa Massachusetts này, các bà mẹ
không phải kêu hét và cũng không phải mặc quần áo bình thường như khi
sinh đẻ. Lệ là như thế rồi.
Một người đàn ông trẻ tuổi đi đi lại lại bên ngoài phòng đẻ. Bên trong có
hai bác sĩ khoa nhi cùng với một bác sĩ riêng của gia đình làm nhiệm vụ.
Người cha này không dám để xảy ra chuyện gì cho đứa con đầu lòng của
mình. Hai bác sĩ khoa nhi sẽ được trả một món tiền lớn với mỗi một việc là
đứng đó để chứng kiến chuyện sinh đẻ thôi. Một trong hai bác sĩ ấy đã mặc
sẵn bộ lễ phục bên dưới chiếc áo choàng trắng của bệnh viện, để hễ xong ở
đây ra là ông đi dự tiệc ở đâu đó. Ông ta không thể nào vắng mặt trong ca
sinh đẻ đặc biệt này được. Trước đó, cả ba bác sĩ đã rút thăm với nhau xem
ai trong số họ sẽ trực tiếp đỡ đẻ.
Cuối cùng, người rút trúng là bác sĩ đa khoa MacKenzie. Người cha vừa
đi lại ngoài hành lang vừa nghĩ xem sẽ đặt tên gì cho hay và gặp nhiều may
mắn. Thực ra, anh cũng không lo đến chuyện ấy lắm. Sáng hôm đó, Richard
đã chở Anne, vợ anh, đến bệnh viện bằng cỗ xe ngựa hai bánh. Vợ anh đã
tính đến hôm đó là ngày thứ hai mươi tám của tháng thứ chín rồi. Cô ta bắt
đầu đau đẻ ngay từ sau lúc ăn sáng, nhưng người ta bảo anh là nếu có đẻ
cũng phải đến chiều sau giờ ngân hàng anh đóng cửa. Anh là một người rất
có kỷ luật, không muốn việc vợ mình đẻ ảnh hưởng gì đến giờ giấc của
người khác. Anh vẫn cứ đi đi lại lại trong hành lang như vậy. Mấy cô y tá và
bác sĩ trẻ tất tả ra vào đều biết anh đang có mặt ở đây. Đi qua gần chỗ anh,
họ thì thầm với nhau nhưng ra xa họ lại nói bình thường. Anh không để ý
chuyện đó, vì đã quen với mọi người vẫn đối xử với mình như vậy. Phần lớn
những người ở đây chưa gặp anh bao giờ, nhưng mọi người đều biết anh là
ai.
Nếu đứa bé sinh ra hôm nay là con trai, có lẽ anh sẽ xây tặng cho bệnh
viện một khu mới mà bệnh viện đang rất cần. Anh đã tặng họ một thư viện
và một trường tiểu học rồi. Anh chàng sắp làm bố ấy giở tờ báo buổi chiều ra
xem nhưng chẳng đọc chữ nào ra chữ nào. Anh bứt rứt lo lắng. Chắc là họ
(anh gọi mọi người là “họ” hết) chẳng bao giờ có thể hiểu được là anh dứt
khoát phải có con trai, để một ngày kia nó sẽ thay anh làm thống đốc và chủ
tịch ngân hàng. Anh lật mấy trang báo buổi chiều: Đội Tất Đỏ Boston đấu
với đội Cao Nguyên New York. Xong trận này chắc họ sẽ khao to. Anh chợt
nhớ đến mấy dòng chữ to ở trang đầu, bèn lật ra xem. Báo đưa tin một vụ
động đất tệ hại nhất trong lịch sử nước Mỹ. San Francisco bị tàn phá ghê
gớm. Ít nhất có bốn trăm người chết. Ôi, bao nhiêu là tang tóc. Anh bỗng
thấy bực dọc trong người. Chuyện động đất làm mất cả ý nghĩa việc đứa con
anh sắp ra đời. Đáng lẽ người ta phải nhớ rằng trong những ngày này còn có
sự kiện gì khác nữa chứ.
Anh chưa hề có lúc nào nghĩ rằng đứa bé có thể là con gái. Anh lật tờ báo
sang trang tài chính và xem lại mục thị trường chứng khoán: Chỉ số đã tụt
xuống mấy điểm. Thế là vụ động đất chết tiệt kia đã làm giảm mất giá trị cổ
phần của anh trong ngân hàng tới một trăm ngàn đôla. Tuy nhiên, với tài sản
riêng của anh hiện vẫn còn trên 16 triệu đôla thì đến mấy vụ động đất như ở
California cũng chưa làm gì anh được. Anh vẫn còn có thể hưởng tiền lãi
suất, còn cả cái vốn 16 triệu kia vẫn sẽ nguyên đó để con trai anh sau này
thừa kế. Anh tiếp tục đi lại trong hành lang và làm như vẫn đọc tờ báo buổi
chiều.
Ông bác sĩ khoa nhi đã mặc sẵn lễ phục khi nãy bước ra khỏi phòng đẻ để
báo tin. Ông ta cảm thấy mình phải làm cái gì đó cho xứng với món tiền to
sắp được lĩnh, và ông nghĩ mình cũng đang là người ăn mặc chỉnh tề nhất
thông báo tin này. Hai người nhìn nhau một lúc. Ông bác sĩ thấy hơi xúc
động nhưng không muốn biểu lộ gì trước mặt người mới làm bố.
“Xin chúc mừng ông, ông đã có con trai, một chú bé nhỏ tí và rất xinh
đẹp.”
Người cha nghĩ bụng ông bác sĩ nói thế là dở quá, vì đứa nào mới sinh ra
mà chả nhỏ tí? Nhưng cái tin con trai ông ta vừa nói đến giờ mới ngấm vào
người anh. Suýt nữa anh bật lên nói tạ ơn Chúa. Ông bác sĩ hỏi thêm một câu
nữa để phá tan cái im lặng lúc đó.
“Ông đã định đặt tên cháu là gì chưa?”
Người cha trả lời ngay, không ngập ngừng:
“Cháu tên là William Lowell Kane.”
CHƯƠNG 3
Sau khi cả nhà đã hết nhộn nhịp với việc đứa bé mới về nhà này và mọi
người đã đi ngủ từ lâu rồi, người mẹ vẫn còn thức với đứa bé trong tay.
Helena Koskiewicz là một người rất tin ở cuộc sống. Bằng chứng là chị đã
đẻ và nuôi được sáu đứa con. Trước đó chị đã để mất đi ba đứa từ lúc chúng
còn nhỏ, nhưng chị cũng chưa để cho đứa nào chết một cách dễ dàng được.
Chị chỉ mới ba mươi lăm tuổi nhưng biết là anh chồng Jasio của mình,
trước đây vốn là một người rất khỏe mạnh, sẽ chẳng cho chị thêm đứa con
nào nữa. Bây giờ Chúa đã đem đứa bé này đến cho chị, chắc chắn là nó phải
sống. Helena cũng là con người có đức tin đơn giản, và điều đó cũng phải
thôi, vì số phận chả bao giờ cho chị có được cuộc sống nào khác hơn cuộc
sống đơn giản hiện nay. Người chị xanh xao gầy mòn, không phải do chị
muốn như vậy mà do chị được ăn quá ít, lại làm lụng vất vả và không có tiền
để dành. Chị chẳng bao giờ phàn nàn điều gì, nhưng các nếp nhăn trên mặt
chị khiến chị chẳng khác gì một người đã có cháu gọi bằng bà chứ không
phải người mẹ ở thế giới ngày nay. Đời chị chưa một lần nào được mặc quần
áo mới.
Helena bóp thật mạnh vào hai bên vú đến hằn đỏ cả lên. Mấy giọt sữa
tuôn ra. Ở cái tuổi ba mươi lăm, tức là đã nửa đời người, ai nấy đều đã ít
nhiều có kinh nghiệm thành thạo, và Helena chính đang ở thời kỳ như vậy.
“Chú nhỏ của mẹ nào,” chị khẽ nói với đứa bé và ấn đầu vú vào miệng nó
đang chum cong lên chờ sữa. Đôi mắt xanh của nó hé mở. Vài giọt mồ hôi
lấm tấm trên mũi. Cuối cùng người mẹ cũng lăn ra ngủ từ lúc nào.
Jasio Koskiewicz, anh chồng lờ đờ chậm chạp có bộ ria mép rất rậm và
cũng là thứ quý nhất để anh ta có thể tự khẳng định được mình trong cuộc
sống đi làm thuê khổ sở này, chợt tỉnh dậy vào lúc năm giờ, thấy vợ với đứa
bé kia còn đang ngủ trên ghế chao. Đêm đó anh ta cũng không chú ý đến
việc không có mặt vợ trên giường. Anh ta đứng chăm chăm nhìn vào đứa bé
không cha không mẹ. Anh cảm ơn Chúa vì ít ra đứa bé không còn kêu hét
nữa. Hay là nó chết rồi? Jasio nghĩ bụng thôi mình chả nên dính đến cái của
nợ này nữa. Cứ việc đi làm như thường, để mặc cho vợ anh lo chuyện sống
chết của nó, còn anh thì tính làm sao có mặt ở trang trại của Nam tước từ
sáng sớm là được. Anh tu mấy hớp sữa dê vào bụng rồi quệt miệng vào tay
áo. Sau đó một tay cầm khoang bánh và một tay vớ lấy chiếc bẫy anh ta lặng
lẽ chuồn ra ngoài, bụng chỉ sợ người đàn bà thức dậy và bảo anh làm gì đó.
Anh ta rảo bước về phía rừng, không muốn nghĩ gì đến đứa bé nữa và chỉ
mong đây là lần cuối cùng anh ta trông thấy nó.
Florentyna, cô con gái lớn, là người thứ hai bước vào bếp. Chiếc đồng hồ
cổ không biết đã được bao nhiêu năm vừa điểm sáu giờ sáng. Nó chẳng qua
chỉ để nhắc cho những ai trong nhà muốn biết giờ phải dậy hay phải đi ngủ
mà thôi. Công việc hàng ngày của Florentyna chỉ có mỗi chuyện là chuẩn bị
bữa ăn sáng, cụ thể là chia bọc sữa dê và miếng bánh mì đen ra cho đủ tám
người trong gia đình cùng ăn. Việc chỉ có thế thôi nhưng nó đòi hỏi cô phải
có cái khôn ngoan như của Solomon[1] mới làm nổi để không một ai có thể
phàn nàn gì được là phần của người khác nhiều hơn phần mình.
Florentyna là một cô gái mảnh khảnh, xinh đẹp, ai mới trông thấy cũng
quý mến ngay được. Chỉ tội một điều là đã hai năm nay cô bé vẫn chỉ có một
chiếc áo để mặc. Nhưng cứ trông thấy cô bé là người ta hiểu ngay tại sao
trước đây anh chàng Jasio đã say mê mẹ cô đến thế. Florentyna có mớ tóc
vàng óng mượt và đôi mắt màu hạt dẻ long lanh, bất chấp tuổi nhỏ và ăn
uống thiếu thốn.
Cô rón rén bước đến bên ghế chao nhìn mẹ và đứa bé. Florentyna đã thích
đứa bé ngay từ lúc đầu. Đã tám tuổi rồi nhưng cô bé mới chỉ thấy búp bê có
một lần khi gia đình được mời đến dự tiệc Giáng sinh ở lâu đài của Nam
tước. Cô bé chỉ trông thấy thôi chứ chưa được sờ vào búp bê. Bao giờ cô rất
muốn được bế đứa bé này trong tay mình. Cô cúi xuống gỡ đứa bé ra khỏi
tay mẹ, nhìn vào đôi mắt xanh nhỏ tí của nó và khẽ ru trong miệng. Đang ở
chỗ ấm của vú mẹ sang đôi tay lạnh của cô, đứa bé tỏ ra khó chịu. Nó bỗng
khóc váng lên làm người mẹ bừng tỉnh dậy. Chị lấy làm ân hận mình đã ngủ
lúc nào không biết.
“Ôi, lạy Chúa, nó hãy còn sống,” chị nói với Florentyna. “Con sửa soạn
ăn sáng cho các em, để mẹ cho nó bú nữa.”
Florentyna miễn cưỡng đưa trả đứa bé lại cho mẹ và nhìn mẹ lại cố vắt
sữa ra nữa. Cô bé đứng đó mê mẩn cả người.
“Mau lên con, Florcia,” mẹ cô giục “Phải cho cả nhà ăn nữa chứ.”
Florentyna đành bỏ ra ngoài. Các em cô mới ngủ dậy đã từ trên gác kho
bước xuống chào mẹ và nhìn đứa bé bằng những con mắt kinh ngạc. Chúng
chỉ biết là đứa bé này không phải từ trong bụng mẹ mà ra. Florentyna mải
mê với đứa bé nên sáng nay bỏ cả ăn sáng. Bọn em cô chia luôn phần của cô
ra ăn còn để lại phần của mẹ trên bàn. Cả nhà bận rộn với công việc của
mình nên không một ai để ý rằng từ lúc có đứa bé về nhà đến giờ, người mẹ
chưa hề ăn tí gì vào bụng.
Helena Koskiewicz hài lòng thấy các con mình đã sớm học được cách tự
lo lấy thân mình. Chúng có thể cho gia súc ăn, vắt sữa dê sữa bò và chăm sóc
rau cỏ ngoài vườn mà không cần phải chờ chị sai bảo hay giúp đỡ. Buổi tối,
lúc Jasio về nhà, chị mới nhớ ra là mình chưa sửa soạn bữa tối cho chồng.
Nhưng ngay sau đó chị biết là Florentyna đã bắt đầu làm món thịt thỏ mà
chú em thợ săn Franck đem về cho chị. Florentyna lấy làm tự hào được phụ
trách bữa ăn tối, một công việc mà chỉ khi nào mẹ ốm đau mới giao cho cô,
và Helena Koskiewicz thì họa hoằn lắm mới để cho con gái phải làm như
vậy. Chú bé thợ săn mang về được bốn con thỏ, bố mang về được sáu cây
nấm với ba củ khoai, tối nay cả nhà sẽ được ăn tiệc thật sự.
Ăn tối xong rồi, Jasio Koskiewicz ngồi xuống ghế bên lò sưởi và bây giờ
mới được dịp nhìn kỹ đứa bé. Nâng đầu đứa bé lên bằng mấy ngón tay, anh
ta quan sát khắp người thằng bé với con mắt của một người đi săn thú.
Khuôn mặt nhăn nhúm của nó chỉ có mỗi đôi mắt xanh nhỏ tí và chưa biết
nhìn là đẹp hơn cả. Anh ta nhìn tiếp xuống thân hình mỏng mảnh của nó và
chợt chú ý ngay đến một cái gì đó. Anh ta bỗng nhăn mặt và gạt ngón tay cái
vào ngực đứa bé.
“Em đã thấy cái này chưa, Helena?” anh ta nói và giơ sườn đứa bé ra,
“Cái thằng khốn này hóa ra chỉ có một bên vú thôi!”
Chị vợ cũng lấy làm lạ bèn tự mình gại ngón tay vào ngực nó xem sao.
Chị tưởng làm như thế thì một bên vú nữa sẽ xuất hiện. Chồng chị nói đúng:
đứa bé chỉ có một đầu vú nhỏ tí bên trái, còn cả nửa ngực bên phải thì phẳng
lì và không có một dấu vết gì khác.
Đầu óc mê tín của người đàn bà bỗng nổi lên.
“Thế là Chúa đã cho em thằng bé này.” Chị nói. “Đây là dấu vết của
Chúa để lại cho nó đây.”
Người đàn ông tức mình đưa ngay đứa bé cho vợ.
“Em thật là điên, Helena ạ. Đứa bé này là do một người có máu xấu
truyền sang cho mẹ nó.” Anh ta nhổ một cái vào lò sưởi. “Dù sao, anh cũng
đánh cuộc là thằng bé này không sống được.”
Thực ra, Jasio Koskiewicz cũng chẳng cần biết thằng bé sống hay chết.
Anh ta vốn không phải một người nhẫn tâm, nhưng đứa bé này không phải là
của anh, mà trong nhà thêm một miệng ăn nữa chỉ làm cho mọi chuyện rắc
rối.
Giả thử có như vậy đi nữa thì bản thân anh cũng phải là người đi cầu
Chúa giúp. Rồi không nghĩ ngợi gì về đứa bé nữa, anh ta ngủ thiếp đi bên
đống lửa lò sưởi.
Ngày tháng trôi qua, chính Jasio Koskiewicz cũng dần dần tin rằng đứa
bé có thể sống được. Nếu hôm trước đánh cuộc thật thì anh ta đã thua rồi.
Đứa con trai lớn nhất, tức là chú thợ săn, được các em giúp một tay, đã kiếm
gỗ trong rừng của Nam tước về làm cho thằng bé một chiếc giường.
Florentyna cắt những mẩu vải áo cũ của cô khâu lại làm áo cho nó. Những
mẩu vải ấy khâu lại với nhau trông như áo của anh hề Harlequin mà bọn trẻ
chưa được biết. Trong nhà, mỗi khi định đặt tên cho thằng bé thì chẳng ai
đồng ý với nhau được. Riêng người bố không có ý kiến gì. Cuối cùng họ gọi
nó là Wladek, và chủ nhật sau đó, tại nhà thờ trong trang trại của Nam tước,
thằng bé được mang tên là Wladek Koskiewicz. Người mẹ thì cầu Chúa phù
hộ cho nó, còn người bố thì mặc kệ, bảo nó muốn ra sao thì sao.
Tối hôm đó có một bữa tiệc nhỏ để chúc mừng gia đình. Trang trại của
Nam tước cho một con ngỗng để thêm vào bữa tiệc. Mọi người ăn uống vui
vẻ.
Từ hôm đó trở đi, Florentyna phải học cách chia bữa ăn sáng ra cho chín
miệng ăn.
CHƯƠNG 4
Anne Kane đã ngủ yên được hết đêm. Sau bữa ăn sáng, chị lại sốt ruột đòi
cô y tá bệnh viện đưa trả lại cậu bé William cho chị bế.
“Nào, bà Kane,” cô y tá mặc đồng phục trắng nói, “bây giờ cũng phải cho
em bé ăn sáng nữa chứ?”
Cô y tá cho Anne ngồi dậy trên giường và hướng dẫn cách cho con bú.
Anne chợt hiểu ra bộ ngực mình đã căng phồng. Chị biết là nếu mình tỏ ra
lúng túng lúc này thì người ta sẽ bảo mình không biết làm mẹ. Chị chăm
chăm nhìn vào đôi mắt xanh của William, thấy nó xanh hơn cả mắt bố. Chị
cảm thấy địa vị của mình đã vững vàng hơn, và rất hài lòng. Ở cái tuổi hai
mươi mốt, chị không còn thiếu một thứ gì. Chị thuộc họ Cabot, đi lấy một
người bên gia đình Lowell, và bây giờ lại có đứa con đầu lòng mang truyền
thống của hai gia đình được tóm tắt lại bằng mấy dòng trong tấm thiếp của
người bạn cũ gửi đến cho chị như sau:
Đây là quê cũ Boston
Có đậu, có cá, ai không nhớ về
Lowell, Cabot đề huề
Hạnh phúc hai họ tràn trề Boston
Anne nói chuyện với William đến nửa giờ nhưng đứa bé chưa có phản
ứng gì.
Lát sau nó ngủ một cách ngon lành. Anne không đụng gì đến hoa quả
bánh kẹo đem đến chất đầy ở bên giường. Chị đã có ý định đến mùa hè này
sẽ trở lại với tất cả những mốt áo mới và giành lại chỗ của chị trong những
tạp chí về trang phục. Chẳng phải chính Hoàng tử Garonne đã ca tụng chị là
người đẹp duy nhất ở Boston đó sao? Mớ tóc vàng mượt, những nét thanh tú
và hình dáng thon thả của chị được người ta quý chuộng kể cả ở trong thành
phố chị chưa đến bao giờ. Chị lại ngắm mình trong gương: trên mặt chưa
thấy có một nét gì khác thường, ít ai có thể tin được rằng chị vừa làm mẹ của
một đứa trẻ rất bụ bẫm. Cảm ơn Chúa, đúng là nó bụ bẫm thật đấy, Anne
nghĩ bụng.
Chị ăn một bữa trưa nhẹ ngon miệng rồi chuẩn bị để tiếp những người
khách sẽ đến thăm vào buổi chiều do cô thư ký riêng đã sắp xếp. Những ai
được phép đến thăm trong mấy ngày đầu này đều phải là người trong gia
đình hoặc là thuộc những gia đình quyền quý nhất. Còn những người khác sẽ
chỉ được trả lời là chị chưa sẵn sàng tiếp. Nhưng Boston lại là một trong
những thành phố ở Mỹ mà ai nấy đều biết rõ thân phận của mình cả rồi, nên
cũng không loại trừ trường hợp sẽ có người không mời mà đến.
Căn phòng chị nằm một mình ở đây vẫn còn đủ chỗ để kê thêm được đến
năm chiếc giường nữa giá như người ta không đem hoa đến bầy cắm la liệt
khắp nơi. Ai chợt đi qua nhìn vào nếu không thấy người đàn bà ngồi trên
giường sẽ có thể tưởng như đây là một phòng tr
Hai người đã giúp cho cuốn sách này hình thành được, và cả hai người đều
muốn giấu tên. Một người đang soạn cuốn Hồi ký của đời mình, còn một
người đang là nhân vật quan trọng ở Hoa Kỳ.
“Với cuốn Kane And Abel này, Jeffrey Archer đứng vào hàng mười nhà
văn đầu bảng của thế giới hiện nay”
• The Lost Angeles Times
“Tôi thách bất cứ ai không thích cuốn sách này, vì nó là một trong những
cuốn tiểu thuyết hay nhất tôi được đọc từ trước đến nay.”
• Otto Preminger
“Một cuốn tiểu thuyết có sức mạnh phi thường”
• The Evening News
“Jeffrey Archer là một thiên tài về kể chuyện”
• Susan Howatch
Mục lục
PHẦN MỘT
CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 4
PHẦN HAI
CHƯƠNG 5
CHƯƠNG 6
CHƯƠNG 7
CHƯƠNG 8
CHƯƠNG 9
CHƯƠNG 10
CHƯƠNG 11
CHƯƠNG 12
CHƯƠNG 13
CHƯƠNG 14
PHẦN BA
CHƯƠNG 15
CHƯƠNG 16
CHƯƠNG 17
CHƯƠNG 18
CHƯƠNG 19
CHƯƠNG 20
PHẦN BỐN
CHƯƠNG 21
CHƯƠNG 22
CHƯƠNG 23
PHẦN NĂM
CHƯƠNG 24
CHƯƠNG 25
PHẦN SÁU
CHƯƠNG 26
CHƯƠNG 27
CHƯƠNG 28
CHƯƠNG 29
CHƯƠNG 30
CHƯƠNG 31
CHƯƠNG 32
CHƯƠNG 33
CHƯƠNG 34
CHƯƠNG 35
CHƯƠNG 36
PHẦN BẢY
CHƯƠNG 37
CHƯƠNG 38
CHƯƠNG 39
CHƯƠNG 40
PHẦN TÁM
CHƯƠNG 41
CHƯƠNG 42
CHƯƠNG 43
CHƯƠNG 44
PHẦN MỘT
CHƯƠNG 1
Ngày 18 tháng 4, 1906
Slonim, Ba Lan
Chỉ sau khi đã chết rồi cô ta mới không kêu hét nữa. Và cũng chính vào
lúc đó đứa bé mới bắt đầu gào khóc.
Chú nhỏ đang đi săn thỏ trong rừng gần đó nghe thấy lạ nhưng không
phân biệt được đó là tiếng hét cuối cùng của người đàn bà hay tiếng khóc
đầu tiên của đứa bé. Đột nhiên chú quay người lại, cảm thấy có chuyện gì
nguy hiểm, đôi mắt chú dò tìm xem có con thú nào bị đau. Chú chưa bao giờ
nghe một con thú nào kêu lên như vậy. Chú cẩn thận đi từng bước đến gần
nơi phát ra tiếng kêu. Lúc này tiếng kêu đã thành rên rỉ nhưng vẫn không
giống với tiếng của bất cứ con thú nào chú được biết. Chú chỉ mong con thú
này nhỏ để chú đủ sức giết được và để có cái gì mới cho món thịt thỏ bữa
tối.
Chú thợ săn nhỏ rón rén phía bờ sông, nơi có tiếng kêu lạ vẳng đến. Chú
nấp sau từng gốc cây để có chỗ dựa nếu xảy ra chuyện gì. Chú nhớ lời bố
dặn là chớ bao giờ đứng ra ngoài chỗ trống. Ra đến bìa rừng, chú đã có thể
nhìn rõ cả một khoảng thung lũng kéo dài xuống đến sông, và lúc này chú
mới nhận ra tiếng kêu quái lạ ấy không phải phát ra từ một con thú bình
thường. Chú bò dần về phía có tiếng rên. Đến đây, chú đã hoàn toàn ra chỗ
trống. Bỗng chú trông thấy người đàn bà nằm đó, áo váy vén lên ngang ngực
còn hai chân thì giang rộng. Chú chưa hề thấy người đàn bà nào như thế bao
giờ. Chú chạy vội đến bên cạnh, nhìn xuống bụng người đàn bà và chú
hoảng sợ. Giữa hai chân người đàn bà có một vật nhỏ đỏ hỏn và ướt đẫm,
dính vào người bằng một cái gì đó như sợi dây thừng. Chú bé thợ săn bỏ
mấy con thỏ mới lột da xuống rồi quỳ bên cạnh vật nhỏ bé ấy.
Chú ngỡ ngàng nhìn một lúc rồi lại quay ra nhìn người đàn bà. Chú chưa
biết mình phải làm thế nào. Thân thể người đàn bà đã tái xanh vì rét lạnh. Cô
ta chỉ ngoài hai mươi nhưng khuôn mặt đã già cỗi khiến chú bé tưởng cô đã
đến tuổi trung niên. Chú biết là cô ta đã chết rồi. Chú bỗng nhấc cái cơ thể
nhỏ bé lên. Chú cũng không biết tại sao mình làm như vậy. Có lẽ vì chú thấy
đứa bé đưa mấy ngón tay nhỏ xíu lên cào vào bộ mặt nhăn nhúm của nó nên
chú sợ chăng. Nhấc lên rồi chú mới biết là giữa người mẹ với đứa con vẫn
còn dính vào nhau bằng một sợi dây nhầy nhụa.
Trước đó ít ngày chú đã được xem một con cừu đẻ. Bây giờ chú cố nhớ
lại. Chú biết người chăn cừu đã làm như thế nào, nhưng chú không biết là
với một đứa bé thì có thể làm như vậy được không? Đứa bé đã thôi không
rên rỉ nữa. Chú cảm thấy mình phải gấp rút quyết định. Chú rút con dao ra,
con dao chú vừa dùng để lột da thỏ, lau vào tay áo rồi, ngập ngừng một chút,
chú cắt đứt sợi dây ở chỗ gần bụng đứa bé. Máu tuôn ra ở hai đầu dây. Chú
thử nhớ lại xem người chăn cừu đã làm như thế nào. Ông ta thắt một cái nút
để máu khỏi chảy. À, đúng thế rồi. Chú bứt một cọng cỏ dài ở dưới đất và
thắt vội vào đầu dây rồi bế đứa bé lên. Chú từ từ đứng dậy và bỏ lại đó ba
con thỏ với người đàn bà đã chết. Trước lúc đi, chú khép hai chân lại cho
người mẹ và kéo chiếc váy xuống đến đầu gối. Chú chỉ biết làm như vậy
được thôi.
“Ôi, lạy Chúa!” Mỗi khi làm điều gì hoặc rất tốt hoặc rất xấu, chú vẫn
thường thốt lên như vậy. Trong trường hợp này, chú chưa thể biết là xấu tốt
như thế nào.
Chú bé thợ săn cứ thế chạy vội về nhà. Chú biết là mẹ chú chỉ chờ chú
mang thỏ về là sửa soạn bữa ăn tối. Bà mẹ sẽ hỏi hôm nay chú săn được mấy
con. Nhà có những tám miệng ăn, phải có ít nhất là ba con thỏ mới đủ. Đôi
khi chú kiếm một con vịt hoặc con ngỗng, có lúc được cả một con chim trĩ
bay lạc từ trong trại của Nam tước ra đây. Bố chú bé làm ở trang trại ấy.
Nhưng hôm nay chú không dám rời tay khỏi đứa bé chú đang bế, chú lấy
chân đá vào cửa để mẹ nghe thấy và ra mở. Chú lặng lẽ giơ đứa bé lên cho
mẹ xem. Người mẹ không đỡ ngay đứa bé mà còn đưa tay lên ngực và nhìn
nó một lát.
“Ôi, lạy Chúa!” Người mẹ nói và làm dấu thánh giá.
Chú ngước lên nhìn mẹ xem bà vui hay buồn. Nhưng đôi mắt người mẹ
cúi xuống nhìn một cách rất hiền dịu chú chưa từng thấy. Chú biết ngay rằng
điều mình làm là tốt.
“Em bé, hả mẹ?”
“Con trai,” mẹ chú gật đầu khẽ nói. “Con tìm thấy ở đâu thế?”
“Ở gần bờ sông, mẹ ạ.” chú đáp.
“Còn mẹ đứa bé đâu?”
“Chết rồi.”
Người mẹ làm dấu thánh giá.
“Con mau chạy đi nói với bố. Bố sẽ tìm bà Urszula Wojnak trên trại. Rồi
con phải dẫn cả hai người đến chỗ có người mẹ của đứa bé này. Sau đó mọi
người về đây ngay nhé.”
Chú thợ săn nhỏ trao đứa bé cho mẹ. Chú mừng thầm trong bụng là mình
đã không bỏ mặc đứa bé. Trao được cho mẹ rồi, chú lau hai tay vào quần và
chạy đi tìm bố.
Người mẹ lấy vai đẩy cửa vào trong và gọi đứa con gái lớn ra đặt nồi
nước lên bếp lò. Rồi bà ngồi xuống một chiếc ghế gỗ, cởi khuy áo và ấn đầu
vú vào cái miệng nhăn nhúm của đứa bé. Thế là, Sophia, đứa con gái mới
được sáu tháng, tối nay sẽ phải nhịn không còn sữa ăn nữa. Người mẹ lấy
làm lo buồn.
“Nhưng sao lại thế nhỉ?” Người mẹ bỗng thốt lên và kéo chiếc khăn
choàng lên cánh tay mình cùng với đứa bé. “Ôi, chú bé tội nghiệp này, để
đến sáng mai thì chú cũng chết mất thôi.”
Lúc bà đỡ già Urszula Wojnak tắm rửa và thắt lại rốn cho đứa bé thì
người mẹ không nhắc lại những ý nghĩ vừa rồi nữa. Còn ông chồng chỉ đứng
lặng yên mà nhìn.
“Có khách vào nhà tức là có Chúa vào nhà.” người mẹ chợt nhắc đến một
câu tục ngữ Ba Lan.
Ông chồng nhổ toẹt một cái.
“Đồ chết dịch ở đâu. Nhà này có thiếu gì trẻ con nữa chứ!”
Người mẹ làm như không nghe thấy ông ta nói gì, chỉ đưa tay vuốt mấy
sợi tóc đen trên đầu đứa bé.
“Ta đặt tên nó là gì nhỉ?” Người đàn bà nói và ngước mắt nhìn chồng.
“Ai mà biết được? Cứ để cho nó chết mà không có tên tuổi gì hết là
xong.” Ông nhún vai.
CHƯƠNG 2
Ngày 18 tháng 4, 1906
Boston, Massachusetts
Bác sĩ nắm lấy cổ chân đứa bé mới đẻ nhấc cao lên và phát cho nó một
cái vào đít. Đứa bé bật khóc.
Ở Boston, bang Massachusetts, có một bệnh viện chuyên phục vụ cho
những ai mắc các chứng bệnh của người giàu có, và vào một số trường hợp
đặc biệt nào đó bệnh viện cũng kiêm cả việc đỡ đẻ cho những trẻ sơ sinh
giàu có được ra đời. Ở bệnh viện đa khoa Massachusetts này, các bà mẹ
không phải kêu hét và cũng không phải mặc quần áo bình thường như khi
sinh đẻ. Lệ là như thế rồi.
Một người đàn ông trẻ tuổi đi đi lại lại bên ngoài phòng đẻ. Bên trong có
hai bác sĩ khoa nhi cùng với một bác sĩ riêng của gia đình làm nhiệm vụ.
Người cha này không dám để xảy ra chuyện gì cho đứa con đầu lòng của
mình. Hai bác sĩ khoa nhi sẽ được trả một món tiền lớn với mỗi một việc là
đứng đó để chứng kiến chuyện sinh đẻ thôi. Một trong hai bác sĩ ấy đã mặc
sẵn bộ lễ phục bên dưới chiếc áo choàng trắng của bệnh viện, để hễ xong ở
đây ra là ông đi dự tiệc ở đâu đó. Ông ta không thể nào vắng mặt trong ca
sinh đẻ đặc biệt này được. Trước đó, cả ba bác sĩ đã rút thăm với nhau xem
ai trong số họ sẽ trực tiếp đỡ đẻ.
Cuối cùng, người rút trúng là bác sĩ đa khoa MacKenzie. Người cha vừa
đi lại ngoài hành lang vừa nghĩ xem sẽ đặt tên gì cho hay và gặp nhiều may
mắn. Thực ra, anh cũng không lo đến chuyện ấy lắm. Sáng hôm đó, Richard
đã chở Anne, vợ anh, đến bệnh viện bằng cỗ xe ngựa hai bánh. Vợ anh đã
tính đến hôm đó là ngày thứ hai mươi tám của tháng thứ chín rồi. Cô ta bắt
đầu đau đẻ ngay từ sau lúc ăn sáng, nhưng người ta bảo anh là nếu có đẻ
cũng phải đến chiều sau giờ ngân hàng anh đóng cửa. Anh là một người rất
có kỷ luật, không muốn việc vợ mình đẻ ảnh hưởng gì đến giờ giấc của
người khác. Anh vẫn cứ đi đi lại lại trong hành lang như vậy. Mấy cô y tá và
bác sĩ trẻ tất tả ra vào đều biết anh đang có mặt ở đây. Đi qua gần chỗ anh,
họ thì thầm với nhau nhưng ra xa họ lại nói bình thường. Anh không để ý
chuyện đó, vì đã quen với mọi người vẫn đối xử với mình như vậy. Phần lớn
những người ở đây chưa gặp anh bao giờ, nhưng mọi người đều biết anh là
ai.
Nếu đứa bé sinh ra hôm nay là con trai, có lẽ anh sẽ xây tặng cho bệnh
viện một khu mới mà bệnh viện đang rất cần. Anh đã tặng họ một thư viện
và một trường tiểu học rồi. Anh chàng sắp làm bố ấy giở tờ báo buổi chiều ra
xem nhưng chẳng đọc chữ nào ra chữ nào. Anh bứt rứt lo lắng. Chắc là họ
(anh gọi mọi người là “họ” hết) chẳng bao giờ có thể hiểu được là anh dứt
khoát phải có con trai, để một ngày kia nó sẽ thay anh làm thống đốc và chủ
tịch ngân hàng. Anh lật mấy trang báo buổi chiều: Đội Tất Đỏ Boston đấu
với đội Cao Nguyên New York. Xong trận này chắc họ sẽ khao to. Anh chợt
nhớ đến mấy dòng chữ to ở trang đầu, bèn lật ra xem. Báo đưa tin một vụ
động đất tệ hại nhất trong lịch sử nước Mỹ. San Francisco bị tàn phá ghê
gớm. Ít nhất có bốn trăm người chết. Ôi, bao nhiêu là tang tóc. Anh bỗng
thấy bực dọc trong người. Chuyện động đất làm mất cả ý nghĩa việc đứa con
anh sắp ra đời. Đáng lẽ người ta phải nhớ rằng trong những ngày này còn có
sự kiện gì khác nữa chứ.
Anh chưa hề có lúc nào nghĩ rằng đứa bé có thể là con gái. Anh lật tờ báo
sang trang tài chính và xem lại mục thị trường chứng khoán: Chỉ số đã tụt
xuống mấy điểm. Thế là vụ động đất chết tiệt kia đã làm giảm mất giá trị cổ
phần của anh trong ngân hàng tới một trăm ngàn đôla. Tuy nhiên, với tài sản
riêng của anh hiện vẫn còn trên 16 triệu đôla thì đến mấy vụ động đất như ở
California cũng chưa làm gì anh được. Anh vẫn còn có thể hưởng tiền lãi
suất, còn cả cái vốn 16 triệu kia vẫn sẽ nguyên đó để con trai anh sau này
thừa kế. Anh tiếp tục đi lại trong hành lang và làm như vẫn đọc tờ báo buổi
chiều.
Ông bác sĩ khoa nhi đã mặc sẵn lễ phục khi nãy bước ra khỏi phòng đẻ để
báo tin. Ông ta cảm thấy mình phải làm cái gì đó cho xứng với món tiền to
sắp được lĩnh, và ông nghĩ mình cũng đang là người ăn mặc chỉnh tề nhất
thông báo tin này. Hai người nhìn nhau một lúc. Ông bác sĩ thấy hơi xúc
động nhưng không muốn biểu lộ gì trước mặt người mới làm bố.
“Xin chúc mừng ông, ông đã có con trai, một chú bé nhỏ tí và rất xinh
đẹp.”
Người cha nghĩ bụng ông bác sĩ nói thế là dở quá, vì đứa nào mới sinh ra
mà chả nhỏ tí? Nhưng cái tin con trai ông ta vừa nói đến giờ mới ngấm vào
người anh. Suýt nữa anh bật lên nói tạ ơn Chúa. Ông bác sĩ hỏi thêm một câu
nữa để phá tan cái im lặng lúc đó.
“Ông đã định đặt tên cháu là gì chưa?”
Người cha trả lời ngay, không ngập ngừng:
“Cháu tên là William Lowell Kane.”
CHƯƠNG 3
Sau khi cả nhà đã hết nhộn nhịp với việc đứa bé mới về nhà này và mọi
người đã đi ngủ từ lâu rồi, người mẹ vẫn còn thức với đứa bé trong tay.
Helena Koskiewicz là một người rất tin ở cuộc sống. Bằng chứng là chị đã
đẻ và nuôi được sáu đứa con. Trước đó chị đã để mất đi ba đứa từ lúc chúng
còn nhỏ, nhưng chị cũng chưa để cho đứa nào chết một cách dễ dàng được.
Chị chỉ mới ba mươi lăm tuổi nhưng biết là anh chồng Jasio của mình,
trước đây vốn là một người rất khỏe mạnh, sẽ chẳng cho chị thêm đứa con
nào nữa. Bây giờ Chúa đã đem đứa bé này đến cho chị, chắc chắn là nó phải
sống. Helena cũng là con người có đức tin đơn giản, và điều đó cũng phải
thôi, vì số phận chả bao giờ cho chị có được cuộc sống nào khác hơn cuộc
sống đơn giản hiện nay. Người chị xanh xao gầy mòn, không phải do chị
muốn như vậy mà do chị được ăn quá ít, lại làm lụng vất vả và không có tiền
để dành. Chị chẳng bao giờ phàn nàn điều gì, nhưng các nếp nhăn trên mặt
chị khiến chị chẳng khác gì một người đã có cháu gọi bằng bà chứ không
phải người mẹ ở thế giới ngày nay. Đời chị chưa một lần nào được mặc quần
áo mới.
Helena bóp thật mạnh vào hai bên vú đến hằn đỏ cả lên. Mấy giọt sữa
tuôn ra. Ở cái tuổi ba mươi lăm, tức là đã nửa đời người, ai nấy đều đã ít
nhiều có kinh nghiệm thành thạo, và Helena chính đang ở thời kỳ như vậy.
“Chú nhỏ của mẹ nào,” chị khẽ nói với đứa bé và ấn đầu vú vào miệng nó
đang chum cong lên chờ sữa. Đôi mắt xanh của nó hé mở. Vài giọt mồ hôi
lấm tấm trên mũi. Cuối cùng người mẹ cũng lăn ra ngủ từ lúc nào.
Jasio Koskiewicz, anh chồng lờ đờ chậm chạp có bộ ria mép rất rậm và
cũng là thứ quý nhất để anh ta có thể tự khẳng định được mình trong cuộc
sống đi làm thuê khổ sở này, chợt tỉnh dậy vào lúc năm giờ, thấy vợ với đứa
bé kia còn đang ngủ trên ghế chao. Đêm đó anh ta cũng không chú ý đến
việc không có mặt vợ trên giường. Anh ta đứng chăm chăm nhìn vào đứa bé
không cha không mẹ. Anh cảm ơn Chúa vì ít ra đứa bé không còn kêu hét
nữa. Hay là nó chết rồi? Jasio nghĩ bụng thôi mình chả nên dính đến cái của
nợ này nữa. Cứ việc đi làm như thường, để mặc cho vợ anh lo chuyện sống
chết của nó, còn anh thì tính làm sao có mặt ở trang trại của Nam tước từ
sáng sớm là được. Anh tu mấy hớp sữa dê vào bụng rồi quệt miệng vào tay
áo. Sau đó một tay cầm khoang bánh và một tay vớ lấy chiếc bẫy anh ta lặng
lẽ chuồn ra ngoài, bụng chỉ sợ người đàn bà thức dậy và bảo anh làm gì đó.
Anh ta rảo bước về phía rừng, không muốn nghĩ gì đến đứa bé nữa và chỉ
mong đây là lần cuối cùng anh ta trông thấy nó.
Florentyna, cô con gái lớn, là người thứ hai bước vào bếp. Chiếc đồng hồ
cổ không biết đã được bao nhiêu năm vừa điểm sáu giờ sáng. Nó chẳng qua
chỉ để nhắc cho những ai trong nhà muốn biết giờ phải dậy hay phải đi ngủ
mà thôi. Công việc hàng ngày của Florentyna chỉ có mỗi chuyện là chuẩn bị
bữa ăn sáng, cụ thể là chia bọc sữa dê và miếng bánh mì đen ra cho đủ tám
người trong gia đình cùng ăn. Việc chỉ có thế thôi nhưng nó đòi hỏi cô phải
có cái khôn ngoan như của Solomon[1] mới làm nổi để không một ai có thể
phàn nàn gì được là phần của người khác nhiều hơn phần mình.
Florentyna là một cô gái mảnh khảnh, xinh đẹp, ai mới trông thấy cũng
quý mến ngay được. Chỉ tội một điều là đã hai năm nay cô bé vẫn chỉ có một
chiếc áo để mặc. Nhưng cứ trông thấy cô bé là người ta hiểu ngay tại sao
trước đây anh chàng Jasio đã say mê mẹ cô đến thế. Florentyna có mớ tóc
vàng óng mượt và đôi mắt màu hạt dẻ long lanh, bất chấp tuổi nhỏ và ăn
uống thiếu thốn.
Cô rón rén bước đến bên ghế chao nhìn mẹ và đứa bé. Florentyna đã thích
đứa bé ngay từ lúc đầu. Đã tám tuổi rồi nhưng cô bé mới chỉ thấy búp bê có
một lần khi gia đình được mời đến dự tiệc Giáng sinh ở lâu đài của Nam
tước. Cô bé chỉ trông thấy thôi chứ chưa được sờ vào búp bê. Bao giờ cô rất
muốn được bế đứa bé này trong tay mình. Cô cúi xuống gỡ đứa bé ra khỏi
tay mẹ, nhìn vào đôi mắt xanh nhỏ tí của nó và khẽ ru trong miệng. Đang ở
chỗ ấm của vú mẹ sang đôi tay lạnh của cô, đứa bé tỏ ra khó chịu. Nó bỗng
khóc váng lên làm người mẹ bừng tỉnh dậy. Chị lấy làm ân hận mình đã ngủ
lúc nào không biết.
“Ôi, lạy Chúa, nó hãy còn sống,” chị nói với Florentyna. “Con sửa soạn
ăn sáng cho các em, để mẹ cho nó bú nữa.”
Florentyna miễn cưỡng đưa trả đứa bé lại cho mẹ và nhìn mẹ lại cố vắt
sữa ra nữa. Cô bé đứng đó mê mẩn cả người.
“Mau lên con, Florcia,” mẹ cô giục “Phải cho cả nhà ăn nữa chứ.”
Florentyna đành bỏ ra ngoài. Các em cô mới ngủ dậy đã từ trên gác kho
bước xuống chào mẹ và nhìn đứa bé bằng những con mắt kinh ngạc. Chúng
chỉ biết là đứa bé này không phải từ trong bụng mẹ mà ra. Florentyna mải
mê với đứa bé nên sáng nay bỏ cả ăn sáng. Bọn em cô chia luôn phần của cô
ra ăn còn để lại phần của mẹ trên bàn. Cả nhà bận rộn với công việc của
mình nên không một ai để ý rằng từ lúc có đứa bé về nhà đến giờ, người mẹ
chưa hề ăn tí gì vào bụng.
Helena Koskiewicz hài lòng thấy các con mình đã sớm học được cách tự
lo lấy thân mình. Chúng có thể cho gia súc ăn, vắt sữa dê sữa bò và chăm sóc
rau cỏ ngoài vườn mà không cần phải chờ chị sai bảo hay giúp đỡ. Buổi tối,
lúc Jasio về nhà, chị mới nhớ ra là mình chưa sửa soạn bữa tối cho chồng.
Nhưng ngay sau đó chị biết là Florentyna đã bắt đầu làm món thịt thỏ mà
chú em thợ săn Franck đem về cho chị. Florentyna lấy làm tự hào được phụ
trách bữa ăn tối, một công việc mà chỉ khi nào mẹ ốm đau mới giao cho cô,
và Helena Koskiewicz thì họa hoằn lắm mới để cho con gái phải làm như
vậy. Chú bé thợ săn mang về được bốn con thỏ, bố mang về được sáu cây
nấm với ba củ khoai, tối nay cả nhà sẽ được ăn tiệc thật sự.
Ăn tối xong rồi, Jasio Koskiewicz ngồi xuống ghế bên lò sưởi và bây giờ
mới được dịp nhìn kỹ đứa bé. Nâng đầu đứa bé lên bằng mấy ngón tay, anh
ta quan sát khắp người thằng bé với con mắt của một người đi săn thú.
Khuôn mặt nhăn nhúm của nó chỉ có mỗi đôi mắt xanh nhỏ tí và chưa biết
nhìn là đẹp hơn cả. Anh ta nhìn tiếp xuống thân hình mỏng mảnh của nó và
chợt chú ý ngay đến một cái gì đó. Anh ta bỗng nhăn mặt và gạt ngón tay cái
vào ngực đứa bé.
“Em đã thấy cái này chưa, Helena?” anh ta nói và giơ sườn đứa bé ra,
“Cái thằng khốn này hóa ra chỉ có một bên vú thôi!”
Chị vợ cũng lấy làm lạ bèn tự mình gại ngón tay vào ngực nó xem sao.
Chị tưởng làm như thế thì một bên vú nữa sẽ xuất hiện. Chồng chị nói đúng:
đứa bé chỉ có một đầu vú nhỏ tí bên trái, còn cả nửa ngực bên phải thì phẳng
lì và không có một dấu vết gì khác.
Đầu óc mê tín của người đàn bà bỗng nổi lên.
“Thế là Chúa đã cho em thằng bé này.” Chị nói. “Đây là dấu vết của
Chúa để lại cho nó đây.”
Người đàn ông tức mình đưa ngay đứa bé cho vợ.
“Em thật là điên, Helena ạ. Đứa bé này là do một người có máu xấu
truyền sang cho mẹ nó.” Anh ta nhổ một cái vào lò sưởi. “Dù sao, anh cũng
đánh cuộc là thằng bé này không sống được.”
Thực ra, Jasio Koskiewicz cũng chẳng cần biết thằng bé sống hay chết.
Anh ta vốn không phải một người nhẫn tâm, nhưng đứa bé này không phải là
của anh, mà trong nhà thêm một miệng ăn nữa chỉ làm cho mọi chuyện rắc
rối.
Giả thử có như vậy đi nữa thì bản thân anh cũng phải là người đi cầu
Chúa giúp. Rồi không nghĩ ngợi gì về đứa bé nữa, anh ta ngủ thiếp đi bên
đống lửa lò sưởi.
Ngày tháng trôi qua, chính Jasio Koskiewicz cũng dần dần tin rằng đứa
bé có thể sống được. Nếu hôm trước đánh cuộc thật thì anh ta đã thua rồi.
Đứa con trai lớn nhất, tức là chú thợ săn, được các em giúp một tay, đã kiếm
gỗ trong rừng của Nam tước về làm cho thằng bé một chiếc giường.
Florentyna cắt những mẩu vải áo cũ của cô khâu lại làm áo cho nó. Những
mẩu vải ấy khâu lại với nhau trông như áo của anh hề Harlequin mà bọn trẻ
chưa được biết. Trong nhà, mỗi khi định đặt tên cho thằng bé thì chẳng ai
đồng ý với nhau được. Riêng người bố không có ý kiến gì. Cuối cùng họ gọi
nó là Wladek, và chủ nhật sau đó, tại nhà thờ trong trang trại của Nam tước,
thằng bé được mang tên là Wladek Koskiewicz. Người mẹ thì cầu Chúa phù
hộ cho nó, còn người bố thì mặc kệ, bảo nó muốn ra sao thì sao.
Tối hôm đó có một bữa tiệc nhỏ để chúc mừng gia đình. Trang trại của
Nam tước cho một con ngỗng để thêm vào bữa tiệc. Mọi người ăn uống vui
vẻ.
Từ hôm đó trở đi, Florentyna phải học cách chia bữa ăn sáng ra cho chín
miệng ăn.
CHƯƠNG 4
Anne Kane đã ngủ yên được hết đêm. Sau bữa ăn sáng, chị lại sốt ruột đòi
cô y tá bệnh viện đưa trả lại cậu bé William cho chị bế.
“Nào, bà Kane,” cô y tá mặc đồng phục trắng nói, “bây giờ cũng phải cho
em bé ăn sáng nữa chứ?”
Cô y tá cho Anne ngồi dậy trên giường và hướng dẫn cách cho con bú.
Anne chợt hiểu ra bộ ngực mình đã căng phồng. Chị biết là nếu mình tỏ ra
lúng túng lúc này thì người ta sẽ bảo mình không biết làm mẹ. Chị chăm
chăm nhìn vào đôi mắt xanh của William, thấy nó xanh hơn cả mắt bố. Chị
cảm thấy địa vị của mình đã vững vàng hơn, và rất hài lòng. Ở cái tuổi hai
mươi mốt, chị không còn thiếu một thứ gì. Chị thuộc họ Cabot, đi lấy một
người bên gia đình Lowell, và bây giờ lại có đứa con đầu lòng mang truyền
thống của hai gia đình được tóm tắt lại bằng mấy dòng trong tấm thiếp của
người bạn cũ gửi đến cho chị như sau:
Đây là quê cũ Boston
Có đậu, có cá, ai không nhớ về
Lowell, Cabot đề huề
Hạnh phúc hai họ tràn trề Boston
Anne nói chuyện với William đến nửa giờ nhưng đứa bé chưa có phản
ứng gì.
Lát sau nó ngủ một cách ngon lành. Anne không đụng gì đến hoa quả
bánh kẹo đem đến chất đầy ở bên giường. Chị đã có ý định đến mùa hè này
sẽ trở lại với tất cả những mốt áo mới và giành lại chỗ của chị trong những
tạp chí về trang phục. Chẳng phải chính Hoàng tử Garonne đã ca tụng chị là
người đẹp duy nhất ở Boston đó sao? Mớ tóc vàng mượt, những nét thanh tú
và hình dáng thon thả của chị được người ta quý chuộng kể cả ở trong thành
phố chị chưa đến bao giờ. Chị lại ngắm mình trong gương: trên mặt chưa
thấy có một nét gì khác thường, ít ai có thể tin được rằng chị vừa làm mẹ của
một đứa trẻ rất bụ bẫm. Cảm ơn Chúa, đúng là nó bụ bẫm thật đấy, Anne
nghĩ bụng.
Chị ăn một bữa trưa nhẹ ngon miệng rồi chuẩn bị để tiếp những người
khách sẽ đến thăm vào buổi chiều do cô thư ký riêng đã sắp xếp. Những ai
được phép đến thăm trong mấy ngày đầu này đều phải là người trong gia
đình hoặc là thuộc những gia đình quyền quý nhất. Còn những người khác sẽ
chỉ được trả lời là chị chưa sẵn sàng tiếp. Nhưng Boston lại là một trong
những thành phố ở Mỹ mà ai nấy đều biết rõ thân phận của mình cả rồi, nên
cũng không loại trừ trường hợp sẽ có người không mời mà đến.
Căn phòng chị nằm một mình ở đây vẫn còn đủ chỗ để kê thêm được đến
năm chiếc giường nữa giá như người ta không đem hoa đến bầy cắm la liệt
khắp nơi. Ai chợt đi qua nhìn vào nếu không thấy người đàn bà ngồi trên
giường sẽ có thể tưởng như đây là một phòng tr
 





